Hiển thị các bài đăng có nhãn PHONG TỤC VÙNG MIỀN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHONG TỤC VÙNG MIỀN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Phong tục thờ thần bếp của Người Thái Đen ở Lai Châu

Phong tục thờ thần bếp của Người Thái Đen ở Lai Châu

Phong tục thờ thần bếp của Người Thái Đen ở Lai Châu
Người Thái Đen ở Mường Mít quan niệm rằng thần bếp (phi chi phay) đồng nghĩa với thần lửa (phi phay). Thần lửa luôn giữ vị trí thiêng liêng trong ngôi nhà. Thần lửa giúp sưởi ấm các thành viên trong gia đình những ngày đông giá lạnh, giúp con người có cơm dẻo canh ngọt để ăn, có rượu ngon để uống… Do vậy, đồng bào có nhiều nghi thức cúng thần bếp. Khi ngôi nhà mới vừa hoàn thành, gia đình xem phong thuy sắp xếp đồ đạc và dọn sang nhà mới đồng thời tổ chức nghi lễ cúng thần bếp. Ông cậu của gia chủ trịnh trọng treo lên trên đầu cột bếp một quả bí xanh vỏ phớt trắng.
Người Thái Đen ở Lai Châu với tục thờ thần bếp

Già làng Lò Văn Phớ (sinh năm 1930) ở bản Ít, xã Mường Mít cho biết tục treo quả bí xanh trên đỉnh cột bếp xuất phát từ truyền thuyết của người Thái Đen nơi đây kể rằng: “Xưa mắt người sáng chiếu rọi qua ba quả núi, chim muông ở đâu cũng bị người tìm săn bắt bèn lên trời kiện với Then. Then triệu người lên lấy bột gạo xoa vào mắt cho mắt người mờ đi. Khi Then thả người trở lại mặt đất, người không nhìn thấy gì. Thương tình, bí xanh giúp lấy bột gạo trong mắt người ra, nhưng vì sợ Then trách phạt nên bí xanh không dám lấy hết, chỉ lấy đủ cho mắt người nhìn thấy mọi vật xung quanh. Từ đó, người nhìn được, nhưng mắt không còn sáng như xưa, không tinh bằng mắt chim muông. Nhưng cũng kể từ đó, vỏ bí xanh có thêm màu phớt trắng mà không còn xanh tuyền như trước. Nhớ ơn bí xanh, người treo bí xanh lên đỉnh cột bếp để hưởng khói bếp, người ăn thứ gì, bí xanh cũng được hưởng thứ đó”. Nhưng cũng có nhà không treo bí xanh mà treo cái đó bắt cá. Già làng Lò Văn Phớ cho biết thêm: “Người Thái Đen ở đây quan niệm của cải làm ra đưa về nhà sẽ được thần bếp giữ hộ. Khi thần bếp nổi giận phát hỏa cháy nhà thì của cải cũng sẽ tiêu tan”.

Thần bếp được người Thái Đen ở Mường Mít coi trọng không kém gì ma nhà (tổ tiên). Trong lễ xem ngay lên nhà mới, cùng với việc dâng lễ cúng tổ tiên (nếu bố mẹ của gia chủ đã chết), gia chủ còn phải dâng lễ cúng thần bếp. Một bà lão giỏi việc bếp núc được gia chủ mời về giúp việc nhóm lửa bếp để lấy phước về sau. Nếu lửa bếp nhóm lên được ngay thì đó là điềm lành, gia đình sẽ làm ăn khấm khá, có của ăn của để, có cơm lành canh ngọt, có rượu ngon, thịt béo… Nhưng nếu lửa vừa nhóm lên đã tắt thì thầy mo sẽ phải thỉnh mời thần bếp từ nhà cũ lên nhập lửa vào bếp ở nhà mới.

Bếp là nơi thiêng liêng với nhiều điều kiêng kỵ

Người Thái Đen ở Mường Mít quan niệm nếu rượu nấu không ngon mặc dù người nấu, nguyên liệu và cách thức nấu rượu không thay đổi hoặc gà ấp trứng nở ít con thì đó là do vía của thần bếp ốm yếu, gia chủ phải sửa lễ mời thầy mo về cúng vía cho thần bếp. Lễ cúng diễn ra bên bếp lửa.

Khi đôi bạn trẻ xem tuoi vo chong tổ chức lễ cưới và lúc cô dâu về nhà chồng, ngoài việc lễ bàn thờ tổ tiên còn phải lễ cả thần bếp để thần bếp phù trợ cho việc bếp núc được tốt đẹp. Khi sinh con, sản phụ phải ở cữ 1 tháng gọi là bươn căm (tháng cấm). Trong thời gian đó, sản phụ và trẻ sơ sinh phải ở bên bếp lửa cả ngày lẫn đêm. Người chồng phải trông cho lửa bếp không bao giờ tắt để thần bếp bảo vệ vợ con, không cho các ma ác làm hại. Hết cữ, gia đình chọn ngày lành tháng tốt làm lễ ra cữ cho hai mẹ con và để tạ ơn thần bếp.

Trong nếp sống hàng ngày, những khi mưa to gió lớn, phụ nữ trong nhà lấy đũa cả cắm vào cạnh hòn đá kê làm kiềng bếp ngụ ý mong thần bếp phù hộ cho ngôi nhà được vững chãi trước mưa gió. Vào những ngày đông tháng giá, khi sưởi lửa đồng bào kiêng không đặt chân lên hoặc làm xê dịch hòn đá kê làm kiềng, cũng không được khạc nhổ vào hòn đá ấy; khi ngồi gần bếp không được quay lưng vào bếp. Khi đưa củi vào bếp đun nấu, bao giờ người Thái cũng để trống “cửa” sau của bếp để khi có giặc đến thần bếp sẽ phù hộ cho người nhà có lối thoát thân. Đồng thời, củi đưa vào bếp không được đưa đầu ngọn vào trước vì làm thế con cháu khi sinh sẽ ra ngược. Trên bếp, tai (tay cầm) chảo, nồi… bao giờ cũng phải đặt dọc theo hướng đòn nóc nhà, chỉ khi trong nhà có người chết thì tai chảo, nồi… mới được đặt theo hướng xà ngang để báo với thần bếp rằng nhà có tang.

Cùng với những biến đổi nhanh chóng về kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là sau khi di dân tái định cư thủy điện Huổi Quảng, Bản Chát, nhiều phong tục cổ truyền của người Thái Đen xã Mường Mít đang mai một, nhưng tín ngưỡng thờ thần bếp vẫn được duy trì trong các gia đình.

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

Phong tục lễ hội Đền Trần

Đền Trần, Chùa Tháp là di tích lịch sử, văn hóa ở làng Tức Mặc phường Lộc Vượng, TP Nam Định, nơi xưa là quê hương nhà Trần.

Đền Trần ở Nam Định

Nguồn gốc Lễ khai ấn và lễ rước nước, tế cá tại Đền Trần

Năm Nhâm Tuất (1262), vua Trần Thánh Tông về quê Tức Mặc để ban tiệc lớn. Thăng hương Tức Mặc lên thành phủ Thiên Trường, xây hành đô, cung điện nguy nga tráng lệ. Sau khi nhà Trần suy vong, đền đài cung điện thành phế tích.
Sau khi quân và dân đánh tan quân xâm lược nhà Minh, người dân nơi đây luôn tưởng nhớ tới công lao to lớn của vương triều Trần. Sự tri ân uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta được thể hiện qua việc dựng đền thờ phụng và mở hội để ghi lại những dấu ấn không thể phai mờ.
Lễ hội Đền Trần

Theo các nguồn tư liệu thu thập được, thì đền Trần lúc đầu gọi là nhà thờ Đại tôn. Đến năm Chính Hòa thứ 15 (1695), đền mới được dựng bằng gỗ lim. Năm Ất Dậu (1705) mới chính thức gọi là Trần Miếu (miếu nhà Trần), theo lich am hàng năm triều Lê ban lễ quốc tế. Năm Tự Đức thứ 5 (1852), Trần Miếu (tức đền Thiên Trường) được sửa lớn, khi đó đào được tấm bia đá có dòng chữ “Hưng Đạo thân vương Cố Trạch” (Nhà của Hưng Đạo vương ở Cố Trạch).
Từ đó dân dựng đền Cố Trạch để thờ Hưng Đạo Vương, thân phụ (Trần Liễu), thân mẫu (Đoan Túc) cùng phu nhân Trần Hưng Đạo (Thiên Thành công chúa).
Theo lịch sử ghi lại lễ khai ấn đầu tiên được bắt đầu vào thời đại nhà Trần vào khoảng thế khỉ thứ XIII, theo sử sách có ghi lại là vào những năm 1239. Đây chính là nghi lễ tế tổ tiên của dòng họ nhà Trần, tại Phủ Thiên Trường vua nhà Trân mở tiệc chiêu đãi và phong chức cho những vị quan có công với triều đình. Sau đó, đến những năm chống giặc Mông lễ hội bị gián đoạn, không được tổ chức. Đến năm 1269 mới được Trần Thánh Tông mở lễ lại.

Lễ hội khai ấn Đền Trần

Trong những năm kháng chiến chống Nguyên Mông nhà Trần thực hiện chính sách vườn không nhà trống nên rút toàn bộ quan tại kinh đô Thăng Long về Thiên Trường, nơi đây chính là một căn cứ địa vô cùng thuận lợi về vị thế địa lý tiến thoái như một. Trải qua bao phong ba lịch sử, ấn cũ của chiều đại nhà Trần đã bị thất lạc. Cho đến những năm 1822, vua Minh Mạng có ghé thăm Thiên Trường và cho khắc lại chiếc ấn. Ấn cũ khắc là "Trần triều chi bảo", ấn mới khắc là "Trần triều điển cố" để nhắc lại tích cũ, dưới đó có thêm câu "Tích phúc vô cương".
Vì nhà Trần xuất thân từ nghề chài lưới, nên mỗi người trong Trần tộc đều mang biệt danh một loài cá như: Trần Kinh (cá Triều đẩu - cá quả), Trần Lý (cá Long ngư - cá chép), Trần Cảnh (cá lành canh), Trần Thị Dung (cá ngừ)…
Từ đó lễ khai ấn Đền Trần được diễn ra thường niêm vào rằm thắng Giêng hàng năm lúc 11h đêm ngày 14 đến 1h sáng ngày 15. Đây cũng được coi là tín hiệu nhắc nhở kết thúc những ngày tết cổ truyền dân tộc để tiếp tục công ckuộc lao động sản xuất.
Khi vào hội, các làng này phải rước kiệu về đền Thiên Trường tế các vua Trần. Các lão ông, lão bà mặc áo dài khăn xếp cùng dân làng tề tựu tại đền Cố Trạch làm lễ tế thánh rồi dự lễ khai ấn. Hòm ấn được đặt trang trọng trên bàn thờ. Trong hòm có 2 con dấu (ấn thờ) bằng gỗ. Trên mặt ấn nhỏ có khắc hai chữ “Trần Miếu”, còn trên mặt ấn lớn có dòng chữ “Trần triều tự điển” cùng hàng chữ nhỏ “tích phúc vô cương”.
Theo xem phong thuy vào đúng giờ Tý, chủ tế làm lễ ở đền Cố Trạch, xin rước ấn lên kiệu sang đền Thiên Trường, dâng hương tế cáo trời đất tại bàn thờ Trung thiên, rồi rước ấn vào nội cung, đặt ấn tại ban công đồng làm lễ xin khai ấn.
Bồi tế trịnh trọng đặt tập giấy “điệp” lên trước chủ tế ngồi ở chiếu giữa, chiêng trống nổi lên. Chủ tế trịnh trọng đóng ấn mực đỏ vào tờ “giấy điệp”, cạnh dấu son trên tờ điệp phải đề rõ ngày, tháng, năm, viết sao cho đủ chữ để khi tính đến chữ cuối phải là chữ sinh (sinh, lão, bệnh, tử). Thí dụ: “Giáp Ngọ niên, chính nguyệt, thập ngũ nhật, thừa mệnh phụng khai ấn”. Người được tờ “điệp” đã được đóng ấn đưa về treo tại đền, phủ, từ đường, hay tại nhà, với hy vọng trừ được ma quỷ và mọi rủi ro, được may mắn trong công việc và đời sống trong năm, được mọi sự tốt lành như ý.
Sáng ngày 15 tháng Giêng, tổ chức rước nước. Trước khi đi, chủ tế vào lễ xin một nén hương ở bát hương tổ và 14 nén hương ở các bát hương Hoàng đế, cắm vào bát nhang công đồng trên kiệu bát cống. Đoàn phụ giá, trang nghiêm trong lễ phục cùng cờ biển uy nghi, phụng nghinh kiệu ra cổng đền, rồi dừng lại làm lễ tế trời đất. Đám rước tiếp tục ra bến sông Hồng trên bến Hữu Bị (cách đền khoảng 3 cây số).

Kiệu dừng lại, Ban tổ chức đưa chóe (bình) đựng nước xuống thuyền, thuyền có trang trí cờ hoa rực rỡ, gióng trống chèo ra giữa sông. Chủ tế múc nước trong vào bình, khi bình đầy nước thì đưa vào đặt lên kiệu, và lại theo đường cũ rước nước về đền. Nước trong bình được múc ra các bát để lên bàn thờ tiến hành tế nước. Tế xong, nước này ban cho con cháu họ Trần uống để không quên nguồn gốc tổ tiên.
Sáng ngày 16 tháng Giêng, có lệ tế cá tại đền Thiên Trường. Cá được đựng trong các thúng sơn đỏ có nước gồm cá quả (Triều đẩu), chép (Long ngư), ứng với Trần Kinh và Trần Lý là hai vị tổ họ Trần. Trước đây cá đựng trong 11 thúng sơn đỏ. Một đôi cá Triều đẩu nặng chừng 2kg, còn cá chép mỗi con nặng 2kg. Tế cá từ sáng sớm tới trưa, rồi rước cá thả ra sông Hồng. Bên ngoài tổ chức các trò chơi dân gian đông vui.
Lễ khai ấn, rước nước, tế cá ở đền Thiên Trường là một phong tục tốt đẹp đã trở thành ngày hội trong xuân mới của cả vùng, đang được phục dựng theo đúng lễ nghi cổ truyền của đất Thiên Trường văn hiến.

Đầu năm và việc xin xăm, gieo quẻ

Theo phong tuc tap quan người Việt Nam, hàng năm cứ vào dịp tết, đón năm mới, nhiều người già trẻ, trai gái đều đến chùa, đền miếu lễ Phật, lễ Thánh cầu bình an cho bản thân và gia đình, người thân… Khi lễ Phật, lễ Thánh xong nhiều người muốn xem quẻ đầu năm để biết tử vi, vận hạn, vận mệnh của mình trong năm tốt, xấu ra sao? Có hàng vạn người xin xâm nhưng rất ít có người biết cách xin như thế nào để được kết quả chính xác nhất cho bản thân. Chúng tôi xin trình bày Cách xin xâm, xin keo, gieo quẻ đầu năm 2015như sau


Cách xin xâm, xin keo, gieo quẻ đầu năm 2015
1. Xâm là gì ?

Xâm ở đây gọi là Tướng Quân Linh Sám (xâm thường) và Tả Tướng Quân Hoàng Tiên Lương Phương (xâm thuốc). Với con mắt tự nhiên, xin xâm chỉ là một trò chơi may rủi, nhưng dưới con mắt tín ngưỡng, xin xâm là thỉnh Thần y. 

Có 2 loại: Xâm thường và xâm thuốc.

- Xâm thường: Gọi là Tướng Quân Linh Sám, gồm có 100 lá xâm, đánh số từ 1 tới 100. Xâm thường cho biết Thần ý về bổn mạng, gia đạo, mưu sự, cưới gả, bịnh tật, cầu tài, cầu quan, xuất hành, kiện cáo và mất trộm.

- Xâm thuốc: Còn gọi là Tả Tướng Quân Hoàng Tiên Lương Phương, cũng gồm 100 lá, chỉ một màu vàng, không phân biệt tốt xấu, đánh số từ 1 tới 100. Xâm thuốc cho biết Thần ý về mọi thứ bệnh tật.

2. Quy trình xin xâm, xin keo:

Người muốn xin keo trước tiên cầm hai cái keo lên vái tên, tuổi, địa chỉ chỗ ở hiện tại của mình và khấn vái nói những điều mình cầu xin trước Thánh Thần. Lời cầu xin này sau khi xin keo sẽ được hiển thị qua lá xâm. Sau khi cầu xong lại để hai lá keo xuống đất.

Người xin đi một vòng trong chùa hay đền đến vái các tượng Phật, Thánh độ hai ba phút sau đó trở lại nơi có hai lá keo lúc đầu. Cầm hai lá keo vái lại lần nữa những lời cầu xin của mình. Sau khi cầu xong, hai tay chụm lại giữ hai lá keo trong lòng hai bàn tay, đưa lên cao ngang mặt rồi buông xuống. Nếu một lá keo sấp, một lá ngửa thì coi như xin được keo. Khi đã được quẻ rồi thì bước kế tiếp là hai tay cầm ống đựng những lá xâm và lắc ống xâm. Nếu thấy lá xâm nào nhảy ra thì cầm lấy lá xâm đó, tìm số ghi trên lá xâm là số nào thì đi tìm tờ giấy ghi lời giải của số đó. Những câu thơ hay lời giải trên tờ giấy là vận tốt, xấu của mình trong năm,xem tu vi 2015 để biết thêm chi tiết.

Trường hợp không xin được keo

Có hai trường hợp xảy ra là: cùng sấp hay cùng ngửa.

* Nếu hai lá keo cùng ngửa (cùng Âm) thì đó là lời cầu xin của người cầu không rõ, không cụ thể nên Thánh chưa trả lời được. Người xin xâm có thể cầu lại rõ ràng theo trình tự như trên rồi xin lại quẻ khác.

* Nếu thấy hai lá xâm cùng sấp (cùng dương) thì không nên xin lại quẻ khác vì Thánh không cho biết kết quả có thể lúc mình cầu không nghiêm túc, không thành tâm.

3. Rút quẻ - phong tục lâu đời

Đi lễ chùa đầu năm và xin quẻ là phong tục lâu đời của người Việt. Theo tục cũ, người đi chùa sau khi dâng lễ chọn lấy một quẻ thẻ thường làm bằng tre có ghi số hiệu hoặc ghi một câu ngắn gọn bằng tiếng Hán nêu tổng quát về cuộc đời, vận hạn của người rút quẻ trong năm đó. Ngày nay, thay vì thẻ tre, các chùa thường dùng thẻ giấy và chữ quốc ngữ để người xem dễ hiểu, không cần nhờ đến các thầy đồ luận giải.

Tại một số đình chùa, người đi lễ được rút thẻ miễn phí. Nội dung các quẻ thẻ tập trung nói đến vận hạn của mọi người trong năm. Quẻ tốt hay xấu thể hiện ngay ở tên quẻ: quẻ đại cát, quẻ thượng thượng, quẻ hạ hạ.... Cũng có những quẻ luận giải cụ thể các vấn đề hôn nhân, cầu tài, cầu danh, gia trạch.... và tổng giải.

Người đi lễ chùa rút quẻ đầu năm xuất phát từ mong muốn sẽ gặp nhiều may mắn, an lành trong cả năm trước mắt. Đây là phong tục đã được nhân dân ta lưu giữ từ lâu và trở thành nét đẹp văn hóa mỗi dịp tết đến, xuân về.

4. Phương pháp gieo quẻ dịch truyền thống


Cách xin xâm, xin keo, gieo quẻ đầu năm 2015

Trước tiên ta làm quen với hình dáng và đặc điểm nhận dạng của đồng Càn Long thông bảo. Đồng Càn Long thông bảo được đúc bằng đồng, hình tròn và có lỗ vuông ở chính giữa. 1 mặt ghi bốn chữ "Càn Long thông bảo" bằng chữ Hán, mặt còn lại có họa tiết ký hiệu riêng của đồng tiền.

Trong phương pháp gieo quẻ dịch, người xưa đã quy định mặt có chữ "Càn Long thông bảo" là mặt ngửa, mặt còn lại là mặt sấp 
Trước khi bắt đầu gieo quẻ ta cần chuẩn bị sẵn giấy bút và ghi rõ năm tháng ngày giờ gieo quẻ, 1 cái đĩa hoặc 1 tờ giấy sạch để ta gieo 3 đồng xu đó xuống.
Khi gieo quẻ thì lấy 3 đồng tiền đặt trong lòng bàn tay, úp 2 tay lại, để im và suy nghĩ đến việc cần hỏi trong vòng 1 phút để cho từ trường của đồng tiền và từ trường của cơ thể ta liên thông với nhau. hoặc cũng có thể khấn 1 câu đơn giản như sau:

Vd: "con là..........ở tại..............xin thần linh chỉ cho con biết bao giờ thì khu vực con đang sinh sống có mưa"

Mục đích của việc này giúp cho tinh thần ta được tập trung, càng tập trung thì quẻ hiện càng rõ và càng ứng. hơn nữa có câu "trên đầu 3 tấc có quỷ thần". kính thần thì thần tại là vì vậy .

Khi đã tập trung ý niệm xong ta lắc đều 3 đồng xu lên, vừa lắc vừa tập trung ý niệm về việc hỏi, sau đó gieo cả 3 đồng xu xuống đĩa.

Nếu 1 đồng sấp là hào dương

2 đồng sấp là hào âm

3 đồng đều sấp là dương động

3 đồng đều ngửa là âm động

Gieo 6 lần như vậy thì thành quẻ

Để thuận tiện cho các bạn chưa biết dịch lý, khi gieo các bạn ghi rõ mặt của từng đồng xu ra. Ví dụ lần thứ nhất gieo được 2 đồng ngửa 1 đồng sấp thì các bạn ghi là “lần 1 N N S” trong đó chữ “N” là ngửa, chữ “S” là sấp. cứ như vậy gieo thành 6 lần.

Lần 1. N N N
Lần 2. N S S
Lần 3. S N N
Lần 4. S S S
Lần 5. N S N
Lần 6. S N N
Gieo xong là có căn cứ để luận giải.

Mùng 10 Tết và lễ vía Thần tài

Ông Thần Tài, ông Địa rất gần gũi với dân chúng, nhất là ông Địa lúc nào cũng vui vẻ cười đùa và rất thương con nít. Vì vậy mà khuyên quý vị có điều gì lo lắng bức xúc thì nên nguyện với ông Địa, Thần Tài hóa giải phù hộ cho, sẽ như ý.
Ngày vía của Thần Tài là ngày mùng 10 âm lịch hàng tháng. Ngày này tất cả mọi nhà, công ty, cửa hàng…có thờ Thần Tài, thì đều sắm lễ vật để cúng lấy vía Thần Tài, cầu xin một năm mới làm ăn được thịnh vượng về tài lộc. Đặc biệt là vía thần tài ngày mùng 10 Tết
Lễ cúng của hai Ngài cũng phải chăm chút cho thật kỷ thì mới có kết quả tốt. Đa phần, các vị thần đều dùng mặn, đặc biệt chỉ có Thần Tài, Thổ Địa dùng vừa mặn vừa chay .Lễ cúng nửa năm đầu thì mặn, mà từ tháng 7 âm lịch đến cuối năm là chay 

Phong tục lễ cúng mặn từ tháng 1 đến tháng 6 âm lịch

- 1 bình bông thọ, 5 thứ trái cây ( có trái dừa ), 5 cây nhang, 5 chun rượu đế, 2 đèn cầy, 2 điếu thuốc, gạo , muối hột, vàng bạc đại 2 miếng .
- một bộ tam sên gồm : 1 miếng thịt ba rọi, 1 hột vịt , 1 con tôm ( hay cua ), tất cả đều luộc.

Phong tục lễ cúng chay từ tháng 7 đến tháng 12 âm lịch

- 1 bình bông thọ, 5 thứ trái cây ( có trái dừa ), 5 cây nhang, 5 chun nước , 2 đèn cầy , 2 điếu thuốc, gạo, muối hột , vàng bạc đại 2 miếng .
- bánh chay như là bánh ít, bánh tét, bánh ngọt ...v...v ...

Thường ngày nên đốt nhang mỗi sáng từ 6h – 7h và chiều tối từ 6h – 7 giờ, mỗi lần đốt 5 cây nhang. Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong lọ hoa, và chưng thờ nải chuối chín vàng.
Tránh để các con vật chó mèo quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần Tài.
Hàng tháng thường lau bàn thờ, tắm cho Thần Tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần Tài không được dùng vào việc khác.
Hướng dẫn Thỉnh Thần Tài, Thổ Địa
Khi thỉnh tượng Thần Tài, Thổ Địa ngoài cửa hàng về, cần gói bọc trong giấy đỏ, hoặc trong hộp sạch sẽ, mang vào chùa nhờ các Sư trong chùa “Chú nguyện nhập Thần”, và nhờ các Sư chọn cho ngày tốt đem về nhà để an vị Thần Tài, Thổ Đại.
Về nhà dùng nước lá bưởi rửa và đặt lên bàn thờ, mua các đồ cúng về cúng khấn là được, lần sau cúng vái bình thường.
Ai muốn thờ Thần Tài Thổ Địa đều phải thực hiện như trên, Thần Tài, Thổ Địa mới có linh khí.
Khi thỉnh Thần Tài, Thổ Địa cũng có Thần Tài, Thổ Địa hợp với gia chủ, cũng có Thần Tài, Thổ Địa không hợp với gia chủ, chọn tượng Thần Tài, Thổ Địa mặt tươi cười, mặt sáng sủa, tượng không bị nứt, vỡ, nhìn tượng toát lên vẻ phú quý.
Việc cầu xin tài lộc được nhiều hay ít còn phụ thuộc vào lòng thành của gia chủ, phước đức và số vận của gia chủ. Thần Tài, Thổ Địa không thể cho hay biếu người khác, phải tự gia chủ thỉnh về.

Một số lưu ý trong phong tục cúng thần tài

- Gạo, muối thì cất lại dùng cho có lộc , không được rãi ra ngoài.
- vàng, bạc đại đốt ở ngoài.
- rượu hay nước thì đứng ngoài cửa tưới vào nhà, có ý nghĩa là đem lộc vào .
- bộ tam sên hay bánh trái chia nhau trong nhà dùng không cho người ngoài .
Bài cúng thần tài:
Văn khấn Thần Tài Thổ Địa
- Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
- Con kính lạy Thần Tài vị tiền.
- Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
Tín chủ con là: ……………………………Tuổi:…………………..
Ngụ tại: ……………………………………
Hôm nay là ngày……. tháng ……. năm ………(âm lịch).
Tín chủ con thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị và chư vị tôn Thần.
Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.
Phục duy cẩn cáo!

Nguồn: lichvansu.wap.vn

Việt Nam và 4 Đền, Chùa cầu duyên nổi tiếng

Đầu năm mới, lên đền, chùa ngoài cầu phúc, lộc và sự bình an, nhiều nam thanh, nữ tú còn cầu chuyện tình duyên năm mới có nhiều may mắn, tìm được ý chung nhân.

Không có ngôi chùa, đền nào riêng biệt cho việc cầu duyên, cầu hạnh phúc cá nhân. Tuy vậy, tiếng lành đồn xa, trên khắp dải đất hình chữ S xinh đẹp, mỗi vùng miền đều được dân gian truyền miệng có những đền, chùa rất thiêng cho việc cầu duyên.

Ở đất Thăng Long nổi tiếng nhất là chùa Hà (Q. Cầu Giấy), rồi đến Am Mỵ Châu ở đền Cổ Loa huyện Đông Anh. Bên cạnh đó, khá nhiều ngôi đền, chùa được người đời truyền nhau rất thiêng trong việc cầu duyên tình cho đôi lứa như đền Gióng (huyện Sóc Sơn), chùa Hương...

Tại Ninh Bình, có chùa với cái tên nghe rất lãng mạn: chùa Duyên Ninh cũng là địa điểm cầu duyên có tiếng gần xa.

Ngược lên miền Đông Bắc của Tổ quốc, tại Lạng Sơn - nơi cũng có rất nhiều đền, chùa, lễ hội độc đáo có đền Bắc Lệ.

Đầu năm mới, ai cũng mong bản thân mình được hạnh phúc, tình duyên xuôi chèo, mát mái. xin giới thiệu vài nét về 4 đền, chùa cầu duyên được nhiều người "mách nhau" dịp đầu năm mới kể trên để trong những chuyên du xuân, bạn hãy ghé qua để thưởng ngoạn và cầu khấn.

1. Nổi tiếng chùa Hà

Chùa Hà có tên chữ là Thánh Đức tự, trước tọa lạc ở thôn Bối Hà, xã Dịch Vọng, Huyện Từ Liêm, nay làng lên phố nên chùa thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Theo tích xưa kể lại, chùa Hà do một gia đình làm nghề gốm sứ giàu có quê ở Bối Khê công đức, xây dựng. Hiện nay, lăng mộ thờ gia đình vẫn được lưu giữ trong chùa. Bên phải chùa là ngôi đình Hà làm hoàn toàn bằng gỗ quý, thờ 2 vị thành hoàng là Triệu Chí Thành và Chu Lý, các tướng của Triệu Việt Vương (thế kỷ VI) có công chống giặc Lương.

Qua thời gian, ngôi chùa đã trải qua rất nhiều lần trùng tu, sửa chữa và tôn tạo với tầm vóc ngày càng to đẹp, khang trang hơn. Chùa là điểm đến vàng ngày Lễ, Tết, ngày Rằm hay mồng 1. Tuy vậy, nhắc tới chùa Hà, nhiều người mách ngay đây chính là ngôi chùa cầu duyên nổi tiếng nhất đất Thăng Long.

Không biết nguyên cớ từ đâu và từ khi nào, nhưng với nhiều nam thanh, nữ tú, muốn cầu duyên cho bản thân thì chùa Hà là điểm đến đầu tiên, họ tin sự linh nghiệm tại đây. Cũng không cứ ngày Tết, mà bất kể khi nào, nhất là vào ngày Rằm, ngày mồng 1, nếu có dịp ghé thăm chùa Hà, bạn không khỏi ngạc nhiên vì có rất nhiều bạn trẻ (đa số trong đó là các bạn nữ) tới để dâng hương, xin sớ, xem quẻ cầu duyên.

Một điểm đặc biệt nữa, dọc con phố dẫn vào chùa Hà chỉ bán hoa hồng-hoa tượng trưng cho tình yêu. Các hàng lưu niệm quanh chùa cũng bán rất nhiều vòng, nhẫn… mà cái nào cũng đi theo đôi, theo cặp…

2. Am Mỵ Châu

Am Mỵ Châu nằm trong chùa Cổ Loa. Từ trung tâm Hà Nội đi qua cầu Chương Dương, thị trấn Gia Lâm, qua cầu Đuống theo quốc lộ số 3 đến cây số 17 rẽ tay phải 3 km đến chợ Sa, rẽ trái 300m đến ngã tư rẽ phải 100m là đến di tích.
Chùa thờ Phật, kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc” ở giữa chữ công, trước là nhà tiền tế, hai bên là hành lang. Chùa còn giữ được những bức cốn tứ linh thế kỷ 19, và nhóm di vật có giá trị gồm 134 pho tượng xếp đặt ở hậu cung, thiêu hương, tiền tế, hành lang và nhà Mẫu.

Trong chùa, có am nhỏ thờ một bức tượng không đầu được trang trí rất đẹp và sang trọng. Theo người dân sống tại đây, bức tượng này là thờ công chúa Mỵ Châu bị vua cha chém đầu vì tội phản bội trong truyền thuyết xa xưa.

Truyền thuyết kể lại rằng, khi An Dương Vương thất thế ở thành Cổ Loa công chúa Mỵ Châu lên ngựa chạy về phía nam. Khi đến đèo Mộ Dạ (Diễn Châu, Nghệ An) thì sức cùng, lực kiệt, trước mặt là biển Đông sau lưng là quân thù.

An Dương Vương đã cầu cứu thần Kim Quy, rùa thần hiện lên và nói: “Giặc ở sau lưng nhà vua đó!” vua liền rút gươm quyết định chém đầu Mỵ Châu. Trước khi chết Mỵ Châu quỳ gối ôm chân cha mà nói: “Oan cho con lắm. Nếu là kẻ bất trung có lòng hại cha khi chết thân xác con sẽ hoá thành tro bụi, bằng không hoá thành ngọc, thành đá trôi về hầu cha”.

Về sau nay, người dân Cổ Loa vẫn truyền nhau câu chuyện ly kì về dân chài quăng lưới trên sông Hoàng Giang kéo được bức tượng với hình người ngồi xếp bằng, hai tay để song song đặt lên đầu gối nhưng lại mất đầu.


Cho rằng bức tượng không mấy gì đặc biệt nên dân chài lại thả xuống sống. Nhưng kỳ lạ là sau những lần quăng lưới, bức tượng lại lọt vào. Cảm thấy có điểm báo, người dân hò nhau kéo bức tượng lên bờ. Đồng thời làm lễ xin được rước về. Các cụ bô lão đức cao vọng trọng trong làng đã lên tiếng nói: Nếu có linh thiêng xin ở chỗ nào về chỗ đó để con cháu lập đền thờ. Quả nhiên sau khi gánh về chiếc võng đã đứt ngay tại vùng đất là Am thờ công chúa Mỵ Châu ngày nay, nằm bên trái điện Di Quy.

Nhân dân cho rằng đây chính là tượng công chúa Mỵ Châu đã ứng nghiệm vào lời nói năm xưa, trôi ngược biển Đông về đất Tổ để hầu vua cha. Từ đó hàng năm, người dân trong vùng đã cử người trông coi Am này, người được cử phải có đạo đức tốt, gia đình đầy đủ hạnh phúc, con cái trưởng thành.
Cũng vì câu truyện dân gian vẫn chưa có chứng thực xúc động trên, am Mỵ Nương được người đời truyền tụng rất có ứng nghiệm cho việc cầu duyên, cầu hạnh phúc gia đình.

3. Chùa Duyên Ninh

Chùa Duyên Ninh (Duyên Ninh Tự) tọa lạc trong thành Tây Hoa Lư ở thôn Chi Phong xã Trường Yên. Trên đường từ Tràng An đến chùa Bài Đính. Thưở xa xưa, Duyên Ninh Tự là nơi vui chơi của các công chúa thời Đinh Lê.

Chùa được xây dựng dưới thời Vua Đinh Tiên Hoàng. Dân gian thường gọi chùa này là chùa Thủ. Nơi đây Lý Thái Tổ và công chúa Lê Thị Phất Ngân con vua Lê Đại Hành đã thề hẹn yêu đương ở đó mà sinh ra Lý Thái Tông.

Sau này Lý Phật Mã vẫn lui về đây tu hành. Chùa Duyên Ninh được xem là ngôi chùa nguyên vẹn từ thời Đinh còn lại nên kiến trúc khá khiêm nhường và cổ kính.

Chính nguồn gốc về các cô công chúa, về gia đình hạnh phúc xa xưa của bậc vua chúa nhà Lý mà chùa sau này trở thành một điểm tín ngưỡng thu hút rất đông người dân tới cầu phúc, cầu may. Đặc biệt không thể không kể tới việc cầu duyên và cầu tự hiếm muộn con cái.

4. Đền Bắc Lệ

Nếu có dịp ghé thăm xứ Lạng vào dịp đầu xuân để cảm nhận không khí xuân ngập tràn nơi đây. Đất Lạng Sơn nổi tiếng với rất nhiều lễ hội đặc sắc của các dân tộc Thái, Tày, Nùng, Dao...

Nếu còn độc thân hay muốn cầu hạnh phúc gia đình, bạn hãy tìm đến đền Bắc Lệ. Dân gian vùng quê nơi đây luôn tin tưởng đây là ngôi đền cầu tình duyên thiêng nhất tại xứ Lạng cũng như trên đất nước Việt Nam.

Đền Bắc Lệ Lạng Sơn thuộc xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Đây là đền thờ Mẫu điển hình ở nước ta. Lễ hội lớn nhất trong năm được tổ chức trong vòng 3 ngày từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 9 Âm lịch.

Đền Bắc Lệ nằm trên một quả đồi cao, xung quanh rợp bóng cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Đền là nơi thờ Bà Chúa Thượng Ngàn - nữ thần núi. Bà là người trông coi, cung cấp và ban phát nguồn của cải núi rừng cho con người.

Ngoài ra, được suy tôn trong đền còn có Chầu Bé - một nhân vật có thật người vùng Bắc Lệ, đây chính là các cô, các cậu trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.

Lễ hội đền Bắc Lệ bao gồm các phần lễ chính: lễ tắm ngai, lễ chính tiệc, lễ rước... Không khí của buổi lễ hòa trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng với những điệu nhạc và những trang phục rực rỡ sắc màu của điệu múa sanh tiền, người dân ở đây tin rằng điệu múa sẽ đem lại may mắn và bình an.

Nguồn: lichvansu.wap.vn

Phong tục chém lợn ở Ném Thượng

Phong tuc chém lợn tại làng Ném Thượng có nguồn gốc cách đây từ hàng trăm năm. Theo xem phong thuy, tục lệ này là để giáo dục con cháu về các truyền thống anh dũng, bất khuất cũng như tinh thần đoàn kết chống giặc khi xưa của đội quân do Lý thành hoàng làng lãnh đạo. Bên cạnh đó, tục nuôi lợn tế thánh còn khuyến khích người dân chăn nuôi để có những ‘ông ỉn’ tốt.

phong tuc chem lon
Khai hội chém lợn

Đây là phong tục lễ hội tế thánh

Để tổ chức nghi lễ chém lợn để tế thánh theo phong tục lâu đời, diễn ra vào ngày mồng 5 và mồng 6 tháng 1 theo lich am hàng năm., dân làng đã chuẩn bị với tâm thế cẩn trọng, tôn kính từ một năm trước. Người chăm sóc “cụ ỉn” phải chọn lựa từ các gia đình có cuộc sống đầm ấm, uy tín và thuận hoà với dân làng. Hai “cụ ỉn” phải là giống trắng tuyền không tì vết, được nuôi, tắm sạch sẽ. Hai thanh đao dùng cho PHONG TUC này sắc dài gần 2m để chém lợn được bảo quản cẩn thận, trân trọng đặt trong đình, đến lễ hội mới đưa ra. Người được giao trong trách cầm đao được các cụ trong làng lựa chọn xem tuoi cẩn thận, tất cả những người cầm đao đều phải 50 tuổi.
 
phong tuc
Những chú lợn trắng tuyền rất sạch sẽ

Nguồn gốc phong tục lễ hội chém lợn Bắc Ninh

Ngồi bên trong đình làng Thượng (phường Khắc Niệm, TP Bắc Ninh), nơi hàng năm phong tục chém lợn vẫn diễn ra, ông Trần Văn Hân (67 tuổi) mỉm cười nhớ lại về nguồn gốc của lễ hội quê truyền thống mà từ bé đã được cha mẹ, ông bà truyền lại. Ông Hân tự hào nói về phong tục này, lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng có truyền thống từ mấy trăm năm, gắn liền với truyền thuyết về vị tướng nhà Lý tên Đoàn Thượng khi đem quân đi đánh trận đã trốn trên núi Nghè, chém lợn rừng nuôi quân rồi phá vòng vây thoát ra. Những đời vua Trần sau này vẫn tôn vinh, ghi nhận công lao của Đoàn Thượng khi bao lần phò vua Lý chống giặc ngoại xâm.

phong tuc chem lon o bac ninh
Thanh đao rất sắc được dùng trong lễ hội chém lợn

Để tưởng nhớ người có công khai khẩn vùng đất này, nhân dân lập đền thờ Lý thành hoàng và hàng năm tổ chức lễ hội chém lợn, nhắc nhau về truyền thống xưa. Những năm kháng chiến chống Pháp, đình làng Thượng bị bom đạn tàn phá, theo đó phong tục lễ hội này từ đó cũng mất đi.
Đến năm 1999, ông Hân khi ấy là trưởng thôn, đã cùng nhân dân lập lại đền và khôi phục lễ hội truyền thống này vào năm 2000. “Ngày dựng lại được lễ hội truyền thống đã mất của cha ông, dân làng tôi mừng lắm. Con cháu khắp nơi tụ hội về. Đến nay chúng tôi đã tổ chức được 14 mùa lễ hội chém lợn”, ông Hân kể.
Người đàn ông gần tuổi cổ lai hi cho biết, nhà nào được dân làng chọn cho chăm nuôi “cụ ỉn” đều tự hào lắm. Ngày lễ hội (theo PHONG TUC đó là mồng 5 và mồng 6 tháng Giêng xem ngay âm lịch hàng năm), gia chủ mặc áo dài, trang phục đỏ, chuẩn bị xôi, cỗ làm lễ rước “cụ ỉn” ra đình. Làng Thượng những ngày lễ hội bừng sáng bởi cờ, lộng, trống rước. “Cụ ỉn” sau khi được rước quanh làng sẽ về giữa sân đình và được khai đao chém tế thánh. Dân làng, khách thập phương hàng nghìn người đứng kín quanh khu vực đình háo hức xem nghi lễ phong tục này.

Nguồn: lichvansu.wap.vn